I

Tùy Chỉnh

Chúng tôi được điều lên căn cứ miền Tây vào tháng bảy, tháng mà dân miền này thường gọi là mùa nước nổi. Lênh đênh suốt ba ngày dài, cuối cùng chúng tôi cũng vượt qua khu rừng thác đá cheo leo ấy để tìm đến chốn xóm Hạ mà tôi xin mạn phép được gọi bằng hai tiếng thân thương.
Lại nói đến đội của tôi. Đội của tôi gồm bảy người, trong đó có tới ba người là dân vùng này, vì vậy khi nghe tin được điều đến đây, trông họ có vẻ vui mừng hí hửng lắm.
Song, vui nhất có lẽ là Điền Chính Quốc, bởi xóm Hạ thân thương đây cũng chẳng phải nơi xa lạ nào, đây là nơi chôn nhau cắt rốn của chàng ta và cũng là mảnh đất đã nuôi dưỡng trong tâm hồn cậu một tình yêu rất Việt Nam, một tình yêu nồng nàn, một tình yêu sâu đậm mà tôi, tuy lớn hơn nó hai tuổi, cũng chẳng thể nào diễn tả thành lời.
Kể từ ngày nghe tin được điều đến xóm Hạ, thằng Quốc có vẻ tươi tỉnh hơn hẳn. Sự thật thì nó mới được sát nhập vào đội của tôi còn chưa đầy ba tháng. Đồng đội thì có đồng đội đấy, tình anh em thì có tình anh em đấy song cũng chẳng thể làm vơi đicái nỗi lòng nhớ quê cha đất tổ, nhớ cây đa giếng nước, nhớ cả cái mùi khói bếp lò quen thuộc mỗi buổi hoàng hôn.
Một tuần trước khi chúng tôi bắt đầu hành quân đến xóm Hạ, trong khi sáu người chúng tôi ai nấy đều chuẩn bị quân trang một cách kỹ càng thì chỉ có nó, thằng Quốc, ngồi ngẩn ngỡ một chỗ nhìn về góc xa xăm nào đó. Nó khiến chúng tôi đột nhiên có cảm giác áy náy, chẳng vì lý do gì cả, chỉ là khi nghĩ đến mấy thằng Tây đang hoành hành ngoài kia, nghĩ đến cái cảnh chúng nó hành dân cướp đất, lại nghĩ đến người mẹ đã mất của thằng Quốc, lòng chúng tôi lại đau như cắt.
Ngày đầu tiên hành quân, thằng Quốc mới bắt đầu mở miệng nói chuyện. Tiếng đầu tiên nó nói chẳng ai ngờ lại là hai tiếng ngày xưa. Nó vừa đi vừa lẩm nhẩm ca hát, hát chán, nó lại kể cho chúng tôi nghe những chuyện nơi xóm Hạ quê nó.
Mà kể ra thì cái xóm ấy nhỏ mà cũng có nhiều chuyện vui phết đấy chứ.
Ví dụ như là chuyện tình cô bán nước tên Thắm với anh Lang bán thuốc chẳng hạn. Thằng Quốc kể thì dài lắm, bảo ba hoa dăm ba câu cho vui mà nó nói đến hơn hai giờ đồng hồ mới hết chuyện.
Mà tóm lại thì cả câu chuyện cũng chỉ xoay quanh vấn đề cô Thắm thích anh Lang nhưng chẳng dám nói, thế là tụi quỷ ranh trong xóm liền bày kế khiến cô buột miệng nói ra. Rồi cuối cùng hưởng nhất cũng là dân xóm này, tự dưng được ăn cỗ cưới, không sướng thì là gì?
Đến ngày hành quân thứ hai, thằng Quốc vẫn tiếp tục ba hoa về cái xóm của nó. Nó luôn miệng khẳng định gái xóm nó là đẹp nhất, duyên dáng nhất cái miền Tây này rồi. Trai xóm khác muốn lấy gái xóm nó còn phải mang lễ vật ăn hỏi phải gấp mấy lần lễ vật ăn hỏi bình thường đấy.
Nghe nói ba hoa mà tôi cười khằng khặc các bác ạ. Nói gì thì nói chứ theo tôi ấy, gái đất Cảng tôi vẫn là xinh nhất, vẫn là duyên dáng nhất. Các bác không tin thì cứ về Hải Phòng mà xem. Nào có nơi nào con gái mạnh mẽ cá tính như gái quê tôi đâu cơ chứ? Nhưng mà nghe thằng Quốc ba hoa như thế, tôi là tôi cũng tò mò rồi đấy.
Thôi được rồi, Quốc này, anh mày đây cũng đã hai mươi bảy, vợ con chưa có, mẹ già thì không, thôi thì về xóm mày xem có nàng nào đúng xinh xắn đúng duyên dáng như mày nói thì anh đem lễ vật sang hỏi cưới tiện thể cho mày một bao lì xì to đùng luôn nhé.
Mày cứ nhớ đấy.
Đến ngày hành quân cuối cùng, bảy người chúng tôi ai nấy đều đã mệt bở hơi tai. Lúc này thì đến thằng Quốc cũng chẳng có hơi sức để mà ba hoa tiếp nữa. Đến cả tôi, người đã quá quen với những cuộc hành quân như này cũng cảm thấy rạo rễ hết cả người. Nước của chúng tôi đã hết từ nửa ngày trước, lương thực thì cũng chỉ còn sót lại hai ba mẩu lương khô.
Chúng tôi nhìn nhau, lại nhìn mấy vụn lương khô còn sót lại trong mảnh vải. Tôi vỗ vai anh em. Thôi, nào mình cùng lên đường.
Đặt chân đến mỏm đầu xóm Hạ, chúng tôi hẵng còn một thử thách cuối cùng phải vượt qua, đó chính là con sông dài gần chục mét mà tôi chẳng biết rõ tên.
Và cũng thật may sao, đội chúng tôi lại có thằng Quốc, dân cái vùng này. Vậy là nhờ nó, chúng tôi đã bắt được một chuyến đò qua sông miễn phí.
Tóm lại, đấy cũng không phải là điểm chính của câu chuyện này, điểm chính là... tôi trót say nắng cô lái đò rồi các bác ạ.
Đêm đầu tiên ngủ lại xóm Hạ, tôi bồn chồn lắm. Cái cảm giác nao nao như đứa trẻ mới lớn khiến tôi không thể nào chợp mắt. Vắt tay lên trán, tôi suy nghĩ linh tinh. Xoay người, cô gắng chợp mắt, trong đầu tôi lại hiện lên một bóng hình xinh đẹp.
Cô lái đò xóm Hạ, cô gái với bím tóc đuôi sam màu đen buộc đến ngang thắt lưng, cô gái với chiếc áo bà ba màu trắng tựa một nàng tiên nữ. Ôi! Đặc biệt là cặp mắt đen láy hay chớp chớp nhìn tôi khi nghe kể về những chuyện trong bộ đội ấy.
Này trời ơi, cho con hỏi đôi mắt cô ấy được đúc từ gì thế?

Từ hàng vạn vì sao hay từ những tia nắng ban mai?
Từ giọt sương long lanh hay từ những tiếng hót líu lo của những chú họa mi?
Đôi mắt ấy như xuyên thấu tôi. Nó khiến trái tim tôi bùng cháy, khiến tôi cảm giác mình như bừng tràn sức sống.
Và tôi nhận ra, tôi yêu em như cách mà tôi yêu nước.
Tôi muốn bảo vệ em, muốn bảo vệ đôi mắt ấy như cách mà tôi bảo vệ nước, bảo vệ dân.
Em của tôi, một em tôi với cái tên xinh xắn, Nắng.
Ngày thứ năm ở xóm Hạ, tôi mới có dũng khí để có thể bắt chuyện với em. Và câu đầu tiên tôi nói, nhục không để đâu cho hết, là hai từ Nắng ơi. Sau đó... Không còn sau đó nữa vì tôi chỉ có thể cầm súng đánh Tây chứ để cầm được tay em, để nói với em một tiếng thích, căn bản là quá khó.
Ngày thứ mười ở xóm Hạ, tôi đã nói được với em bốn câu. Một câu Nắng ơi, một câu Em ăn trưa chưa, một câu Em ăn tối chưa và một câu Em ổn không.
Nắng của tôi đã khóc, khóc một cách tức tưởi. Em ngồi ngay gốc đa đầu bến, vùi mặt vào đầu gối, hai tay ôm chặt lấy thân mình. Em khóc tới run người, em nói, em gào, em hận thằng Tây, em hận Việt Minh. Em nói em nhớ mẹ, em nói em cô đơn, em nói, em chẳng biết phải sống làm sao nữa.
Nắng này, Nắng của tôi, em đừng khóc, để tôi ôm em vào lòng này, để tôi sưởi ấm em này, để tôi thích em được không?
Và, hai chúng tôi đã quyến luyến nhau như thế, đã hòa quyện vào nhau như thế.
Một buổi chiều tà, tôi và em cùng ngồi dưới gốc đa, hai bàn tay đan chặt vào nhau, hai đôi mắt cùng nhìn về một hướng. Rồi ngày mai thôi, khi nước nhà độc lập, chúng tôi sẽ về chung một nhà.
Ngày thứ mười lăm ở xóm Hạ, tôi bất ngờ được triệu tập đi duyệt binh cho trận chiến sắp tới. Ngay khi nhận tin, cả người tôi như lặng đi, mồ hôi túa ra như mưa từ hai bên thái dương. Tôi lẳng lặng soạn quân trang  lẳng lặng viết cho Nắng của tôi dăm ba câu.
Nắng này, em chờ tôi trở về nhé, chờ cho nước nhà độc lập nhé.
Tiếng súng dồn dập bên tai khiến tôi choàng tỉnh. Một người đồng đội đứng bên cạnh một tay ôm lấy bụng, tay kia vẫn nắm chắc khẩu súng, mắt nheo nheo nhìn về phía trước. Ở phía sau, mấy người đồng đội khác lại hô to.
Vì Việt Nam, vì độc lập, là bộ đội cụ Hồ, giương cao nòng súng, bảo vệ nước nhà.
Vì Việt Nam, vì độc lập, là bộ đội cụ Hồ, giương cao nòng súng, bảo vệ nước nhà.
Phải rồi, vì Việt Nam, vì độc lập, vì ước mơ được xây dựng một gia đình với em, vì tôi là bộ đội cụ Hồ, giương cao nòng súng, bảo vệ nước nhà.
Nắng của tôi, rọi sáng trái tim, rọi sáng trí óc. Nắng của tôi, vì em, vì bảo vệ đôi mắt ấy, vì chôna xóm Hạ thân thương, vì đôi lứa cô Thắm anh Lang, những người như chúng tôi, đổ xương đổ máu, hi sinh vĩ đại.
Tôi giương cao nòng súng, liên tục hô to khẩu hiệu. Một tiếng súng vang lên, tôi cảm thấy mắt mình như tóe máu. Cả người tôi run rẩy vì đau đớn song nòng súng trên tay vãn rắn chắc. Phải rồi, là bộ đội cụ Hồ, giương cao nòng súng bảo vệ nước nhà.
Nắng của tôi, xin lỗi, xin lỗi vì một mái ấm, xin lỗi vì chẳng thể bảo vệ em, chẳng thể bảo vệ đôi mắt ấy.
Nắng của tôi, Hanh của em, mãi luôn yêu em.
Như tình yêu mà tôi dành cho Tổ Quốc, cho nước nhà, cho quê hương Việt Nam và cho cả dân tộc.