Ma cà rồng ở Edinburgh (2)

Tùy Chỉnh

ii.

Cơn đói xác chết ăn mòn những kẻ đang sống.
~~~

Người ta nói săn ma cà rồng thì nên đi khi trời tối.

Bóng tối sớm đã phủ lên những bia mộ xám ngoét của nghĩa địa Greyfriars. Con đường lát đá xám chạy xuyên qua những hàng mộ phủ cỏ úa vàng lợp đầy tuyết và lá phong đỏ rực. Thi thoảng một trận gió ùa đến, rít lên trong bóng tối vô thanh, rồi lập tức luồn vào những thớ đất cuốc tơi của một vài nấm mộ được chôn cất vội vàng, và mất hút không còn dấu tích.
Gác chòi nằm ngay lối vào nghĩa địa le lói đèn sáng. Ngồi ngay cạnh cửa sổ là người canh gác ca đêm đang gà gật gục đầu trên bàn, dường như hoàn toàn quên mất nhiệm vụ bản thân được giao phó- cũng như những lời đồn về ma cà rồng nhen lên từ khu nghĩa địa Greyfriars.
Ở vùng đất dành cho sự vĩnh viễn và mãi mãi này, dường như không hề tồn tại khái niệm về thời gian. Chỉ có bóng đêm với gió lạnh, bia mộ trên cỏ héo, phong đỏ và tuyết êm. Không gian tĩnh lặng tuyết đối, hệt một đôi mắt thấu suốt lãnh đạm bao quát lấy toàn bộ khung cảnh vắng vẻ tới rợn người.
Nghĩa địa Greyfriars Kirkyard trong đêm đẹp tựa một bức họa Gothic được phác bằng chì. Ấy là một bức họa với những nét vẽ đẹp tới sửng sốt, song lại quá tĩnh lặng và ẩn giấu quá nhiều điều. Mà khi nhìn vào nó, người ta sẽ cảm phục tài năng của người vẽ, song lại dấy lên một cảm giác bất an, lo sợ rằng từ những nấm mộ lặng câm kia sẽ thình lình có thứ gì đó vùng dậy. Người họa sĩ tạo nên bức tranh thoáng do dự, rồi đặt bút vẽ nên một cơn gió. Vẻ tĩnh của bức tranh biến mất, sự im lặng vụn vỡ để lộ ra những bất an và kinh hoàng.
Lúc ấy áng chừng khoảng giữa đêm.
Tiếng bánh xe lộc cộc trên nền đá xám vang lên như muốn gõ thủng không gian thinh lặng. Từ trong bóng tối xuất hiện hai gã đàn ông trẻ tuổi ăn vận rách rưới, mũ vải lụp xụp che kín đi gương mặt lem luốc râu ria lởm chởm. Tên đi trước kéo cỗ xe thồ đặt quan tài, tên đi sau cầm nào cuốc xẻng, móc sắt, dây thừng. Tiếng hát văng vẳng vang lên khuấy động cả nghĩa trang đang say ngủ, không biết là của gã đi sau hay đi trước, khàn đặc và rất nhỏ, run rẩy như giấu đi một tiếng cười.
Quan tài dưới đất mà xác trên cây.

Lướt trên cỏ úa nhìn bia hỏi rằng:
Gió từ hướng Tây hay hướng Bắc?
Lấy tim hay lấy mắt?
Chẳng phải hướng Tây hay hướng Bắc.
Càng chẳng lấy tim hay lấy mắt.
Ta chỉ muốn lấy linh hồn.
Tiếng hát được ghìm dưới âm vực thấp nhất mà vẫn vọng âm âm trong bóng đêm. Tên còn lại dường như không hề thích thú với trò hát hò của kẻ đồng hành.

"Câm mồm đi! Bài hát của mày làm tao phát bệnh!"
Gã rít qua kẽ răng, nhưng cố để âm thanh chỉ lớn ở mức thì thầm. Đáp lại gã là một tràng cười khùng khục khả ố.
"Là cái nào?"
Gã cầm xẻng hỏi, đôi mắt bị che kín gần hết bởi vành mũ lụp xụp đảo quanh những ngôi mộ.
"Ở gần cuối hàng, cái thứ 3. Mới chôn ngày hôm kia."
Bọn chúng kéo xe đi thêm một đoạn nữa, trong khi gã cầm xẻng vẫn không thôi quan sát những ngôi mộ. Cuối cùng, hai gã đàn ông dừng trước một ngôi mộ thứ 3 tính từ cuối hàng. Tên cầm xẻng đi trước, tiến tới gần ngôi mộ. Gã dùng chiếc đèn bão trong tay để soi vào tấm bia đá được cắm vội vàng. Phút chốc, gương mặt gã đanh lại khi nhìn thấy chiếc cọc sắt cắm trên phần đầu ngôi mộ.
"Chết tiệt! Bọn chúng dùng cọc sắt cắm xuyên qua mộ!"
"Thế thì ăn cám à?"
Gã kéo xe thồ đáp, chưng hửng.
Tên cầm xẻng hậm hực dùng xẻng phang mạnh vào tấm bia bằng đá như để trút bớt nỗi cay cú khi kế hoạch phạm tội đổ bể. Gã bước từng bước lầm lũi về phía chiếc xe thồ, đoạn lầm bầm trong cổ họng.
"Mẹ kiếp! Đêm hôm lạnh giá, vậy mà công cốc. Thôi biến gấp đi, không lại lằng nhằng."
Dứt lời, cả hai lập tức rời đi theo con đường đã tới, nhưng đã chẳng còn tên nào cao hứng hát hò như lúc đầu. Và đáng lẽ đêm nay chúng sẽ phải rời đi mà chẳng kiếm được món hời nào, nếu như chúng không đụng phải một ông già và một người thiếu phụ trẻ.
Hai người đi ngược hướng chúng. Người thiếu phụ đeo mạng che, vận một bộ váy muslin đã cũ nhàu, khoác ngoài là áo màu cổ vịt bằng vải thô; trong khi người đàn ông tầm tuổi trung niên mặc quần tây rẻ tiền và áo may bằng vải bao bố. Người phụ nữ lướt qua chúng, cúi đầu khóc thút thít, chẳng biết điều gì đã khiến cô đau khổ tới mức không để ý tới tất thảy những thứ xung quanh, trong lúc đương lên cơn khóc dữ dội đã chẳng may va mạnh vào tên cầm cuốc xẻng. Cú va chạm khiến cô ngã ngồi dưới đất, còn tên cầm xẻng thì giật lùi về sau vài bước, loạng choạng suýt ngã. Sẵn bực dọc trong người, gã vung cán xẻng định bổ mạnh vào người cô.
"Con điếm! Không có mắt à?"
Nhưng ngay khi lưỡi xẻng chỉ còn cách đầu của người thiếu phụ hơn một gang tay, người đàn ông trung niên đã lập tức vung tay chắn phía trên đầu cô, hếch cùi trỏ để chặn đứng đường đi của nó. Không hề nhăn mặt vì bị lưỡi xẻng bổ vào tay, nét lãnh đạm tới rét lạnh dâng lên trong đôi mắt xám đục của ông, và ông nói.
"Ngài không nên đối xử như vậy với một quý cô đâu."
Nói xong, ông còn lưu lại ánh mắt trên gương mặt gã đàn ông bạo lực thêm chừng vài giây, vẫn là cái nhìn lãnh đạm như ban nãy, nhưng lại khiến gã thấy rét lạnh vì vẻ sáng quắc đầy hăm dọa.
Người đàn ông trung niên cúi người đỡ thiếu phụ mang mạng che dậy. Cô cúi đầu đầy vẻ tội nghiệp, song đã cố gắng kìm xuống cơn khóc, nói với vẻ hối lỗi.
"Thật xin lỗi ông vì sự bất cẩn ấy. Tôi vừa trở về sau khi thăm mộ người chồng mới mất hai ngày trước. Tôi không thể ở cạnh khi anh ấy qua đời, nên..."
Nói tới đó, như thể không kìm lại được cảm giác tội lỗi với người đã khuất, cô lại òa lên khóc.
Hai gã đàn ông nghe thấy vậy lập tức đưa mắt nhìn nhau đầy vẻ mờ ám.
"Chồng cô mới chết được hai ngày à?"
"Thưa vâng. Là ngôi mộ mới cất ở đằng kia."
Người góa phụ trả lời, trong khi trỏ vào ngôi mộ được chôn qua loa cách đó dăm bảy bước.
"Thực lòng chia buồn với gia đình cô."
Một trong hai gã lên tiếng. Lời nói đầy tính thương tiếc, song gương mặt lem luốc dưới vành mũ rách lại nhuốm một nụ cười bẩn tưởi.
Người thiếu phụ không đáp, chỉ cúi đầu thay cho lời cảm ơn, và chẳng mấy chốc đã cùng người đàn ông trung niên mất hút trong bóng tối.
"Ê, Burke. Mày có vừa nghe thấy cô ta nói gì không?"
"Ờ, mới chết cách đây hai ngày."
Gã đàn ông tên Burke trả lời, rất nhanh liếc nhìn ngôi mộ mà ban nãy người góa phụ mới trỏ. Phút chốc, cả hai gã rú lên cười man dại. Burke ghì chặt lấy càng của xe thồ, ngửa cổ ra sau, cười khanh khách và tru lên theo kiểu chó sói. Gã đang sướng tới phát điên.
"Tao còn tưởng phải mang cái của nợ này về nhà mà không kiếm được cái xác nào, Hare ạ."
"Mày im lặng đi. Làm nhanh lên còn về."
Hare thấp giọng đe dọa, và Burke lập tức ngậm miệng; cả hai lại cắm đầu đi về phía ngôi mộ mà người góa phụ vừa trỏ.
Dùng đèn soi vào nấm đất nhô cao khỏi lớp cỏ úa chung quanh, Hare hài lòng nói.
"Không có cọc sắt nào cả."
Khi Hare vừa dứt lời, Burke lập tức đặt cáng xe thồ xuống, bước nhanh về phía gã, nhận lấy một chiếc cuốc. Dưới ánh sáng tù mù của chiếc đèn bão, cả hai cắm đầu cuốc đất. Những xẻng đất được xúc một cách vội vàng, chẳng mấy chốc nấm đất nhô cao đã bị san bằng.
Hare đứng thẳng dậy, lột phắt chiếc mũ lụp xụp đang đội. Gương mặt gã hiện ra; nom xương xẩu, xám xịt với râu ria rập rạp; mặc dù mới chỉ chạm tới gần tuổi 40, nhưng nơi khóe mắt và khóe miệng gã dày đặc nếp nhăn nheo- và cũng chính từ những nếp nhăn ấy toát ra một vẻ độc ác tới méo mó. Dùng tay gạt mồ hôi lấm tấm trên mặt, gã hất cằm về phía Burke- gã đàn ông để râu quai nón, gương mặt múp míp hơi ngờ nghệch.
"Mày cuốc tiếp đi!"

Và Burke lại làm theo lời Hare như một cái máy. Tiếng cuốc đất vẫn vang lên đều đều, cho tới khi một tiếng cộc lớn vang lên. Hare lập tức cầm chiếc đèn bão lên, soi tới gần.
"Sắp được rồi!"
Dứt lời, gã lập tức quẳng đèn bão sang một bên, cầm xẻng và tiếp tục xúc đất. Chẳng mấy chốc, mặt quan tài đen bóng đã lộ ra. Bọn chúng vẫn cắm cúi đào hết đất ở xung quanh quan tài.
"Được rồi, giờ buộc thừng vào quanh quan tài đi."
Hare ra lệnh, và Burke lập tức nhảy xuống huyệt, dùng thừng buộc quanh quan tài, ở hai phần đầu và phần cuối. Sau khi buộc xong, gã quăng đầu còn lại của thừng lên trên, và Hare nhanh tay chộp lấy, buộc cẩn thận vào một cây gậy gỗ to bằng cổ chân người lớn. Đoạn thừng kéo căng từ quan tài cho tới cây gậy, chỉ vừa bằng khoảng cách từ huyệt tới mặt đất.
Burke leo lên khỏi huyệt. Cả hai gần như nằm rạp người xuống đất, nghiến răng dồn hết sức mà đặt hai đầu của cây gậy lên vai. Bọn chúng thở hồng hộc, giữ chặt đầu gậy trên vai, dồn lực vào hai chân, từ tư thế cúi rạp mình dần dần nâng gối lên. Tới khi cả hai có thể đứng thẳng trên đất, thì cỗ quan tài cũng đã rời khỏi huyệt. Bọn chúng loạng choạng khênh cỗ quan tài đặt trên xe thồ, rồi lại khênh cỗ quan tài rỗng không khi nãy chở trên xe thồ đặt vào huyệt. Lấp đất qua loa, thu dọn đồ đạc, và rời đi.
Quan tài dưới đất mà xác trên cây.
Lướt trên cỏ úa nhìn bia hỏi rằng:
Gió từ hướng Tây hay hướng Bắc?
Lấy tim hay lấy mắt?
Chẳng phải hướng Tây hay hướng Bắc.
Càng chẳng lấy tim hay lấy mắt.
Ta chỉ muốn lấy linh hồn.
Burke lại khoái trí tru lên bài đồng dao rùng rợn, nhưng giờ Hare không còn miệt thị gã nữa. Quan tài đã đánh tráo xong. Hai kẻ trộm mộ nhanh chóng rời đi, trả lại cho nghĩa trang Greyfriars sự vắng lặng còn hơn lúc trước.
Chiếc xe thồ chở xác chết rong ruổi trên những con đường của khu Old Town, lướt qua những ngôi nhà khang trang của khu Castlehill, và càng đi xa nhà cửa càng thưa thớt dần. Bọn chúng đã tới khu High Street- nơi từng có những ngôi nhà cao tầng sớm nhất thế giới, nhưng giờ thì sập xệ và nghèo túng bởi trận Đại Hỏa Hoạn Edinburgh (1) cách đây bốn năm. Bây giờ, nó là khu ổ chuột tập trung những thứ bẩn thỉu nhất.
Cả hai kéo xe xuyên những con đường với hai bên là những hiên nhà méo mó rách nát. Chúng rẽ vào một ngõ cụt, tối om, có mùi rác rưởi lâu ngày bốc lên lợm mửa. Ở ngay phía cuối ngõ có một người đàn ông đang sốt ruột đứng đợi. Ông ta mặc một chiếc áo blouse trắng bên ngoài một chiếc áo len cao cổ, rồi lại khoác ngoài một chiếc măng tô dài ngang gối. Ông đội một chiếc mũ thợ săn, cố tình kéo thật thấp lưỡi trước để che kín đi nửa khuôn mặt.
Khi thấy hai gã Burke và Hare kéo xe thồ tới, dường như người đàn ông không thể ngăn lại nỗi vui mừng của mình, vội vàng chồm tới.
"Sao rồi? Xác có tươi không?"
"Được hai ngày rồi."
Nghe thấy vậy, vẻ hứng thú trên gương mặt người đàn ông lập tức vụt tắt. Ông lầm bầm chửi rủa trong cổ họng, rồi thảy vào tay Hare 7 bảng Anh. Gã trộm xác cầm lấy mớ tiền, thỏa mãn cất vào trong túi.
"Cho xác vào bao tải đi."
Người đàn ông ra lệnh, vứt về về phía Hare một chiếc bao tải có thể chứa vừa cả một người lớn. Hare hất cằm về phía Burke, và gã đàn ông râu quai nón lại lật đật tiến về phía cỗ quan tài, lục đục khiêng nắp quan tài nặng trịch.
Dưới ánh trăng bàng bạc, thi thể nằm trong quan tài hiện ra. Là một chàng trai trẻ, chừng 20 tuổi. Khi nhìn thấy cái xác ấy, người đàn ông bất giác run rẩy lùi dần về phía sau. Một nỗi kinh hoàng dâng lên trong ông, những mao mạch nằm dưới da như sôi sục lên trong một nỗi bất an tột độ.
"Các ngươi bảo xác này được bao lâu rồi?"
"2 ngày."
Người đàn ông rụt rè tiến thêm mấy bước tới gần cỗ quan tài. Ông cúi đầu nhìn vào quan tài, quan sát kĩ hơn xác chết nằm trong đó. Nước da nhợt nhạt, xương mặt mảnh nhưng sắc nét. Một vẻ đẹp lạnh lẽo như tạc ra từ đá. Ánh trăng khuya hắt lên mái tóc bạch kim vuốt gọn. Giây phút ấy, những mao mạch đang sôi sục dưới lớp da của người đàn ông thình lình vỡ toạc ra. Ông hoảng hốt quay người rồi cắm đầu bỏ chạy khỏi con hẻm. gấp gáp và sợ sệt như thể ông vừa nhìn thấy ma. Thế nhưng, thứ mà người đàn ông vừa nhìn thấy- và nhận ra, có lẽ còn đáng sợ hơn thứ gọi là ma quỷ.
Xác chết đang nằm trong quan tài thình lình ngồi bật dậy. Mí mắt khép chặt mở bừng ra, sáng quắc một màu xanh lục chết chóc. Tiếng tru hú của Burke và Hare vang lên, làm vang động cả con hẻm tối tăm ẩm thấp. Xác chết vẫn bình tĩnh, đưa mắt nhìn người đàn ông đang hoảng hốt bỏ chạy. Một con dao găm được phóng ra bởi xác chết vừa sống lại, cắm phập vào bắp chân người đàn ông lạ mặt. Ông ta rú lên một tiếng, quay lại nhìn bắp chân đầm đìa máu, rồi nghiến răng rút mạnh con dao, tiếp tục chạy cà nhắc ra khỏi con hẻm tối.
Burke và Hare vẫn chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra, mơ hồ không biết thứ nằm trong quan tài kia là ma hay người. Chỉ có duy nhất một thứ bọn chúng rõ. Bọn chúng đang sợ tới phát điên, và chỉ có duy nhất một thứ bọn chúng có thể làm, đó là cắm đầu chạy khỏi con hẻm, trong khi miệng không ngừng la hét.
Thế nhưng cả hai mới chỉ chạy được vài bước chân thì đã bị chặn lại bởi hai bóng người xuất hiện ở đầu hẻm. Một người đàn ông trung niên, gương mặt lãnh đạm, vận áo khoác đuôi tôm- trang phục của những quản gia; và một quý cô mang mạng che đen tuyền, mặc váy đen và tô son sẫm màu- trang phục của một góa phụ để tang chồng.
Burke bước giật lùi về phía sau, lắp bắp nhìn nụ cười quỷ quyệt nở trên môi cô gái trẻ.
"Hai người... Hai người..."
"Hai kẻ ở nghĩa địa ban nãy."
Hare tiếp tục câu nói lắp bắp của tên bạn, gương mặt thuỗn đơ vì kinh ngạc. Đây chính là hai người ban nãy bọn chúng gặp ở nghĩa địa, nhưng đã không còn trang phục rách rưới bẩn thỉu. Họ ăn bận chỉnh tề, toát lên khí chất và địa vị xã hội cao sang. Và quan trọng hơn, người phụ nữ tội nghiệp khóc lóc thảm thiết vì mới mất chồng, lúc này đã hóa thành một mệnh phụ với đôi mắt đen láy sáng rõ và một nụ cười nanh nọc.
Mọi thứ trong phút chốc biến thành một màn kịch dở cười dở khóc. Ngay từ khi đọc báo, Victor Shadow đã đoán được sự thật đằng sau vụ án Ma cà rồng ở Edinburgh. Chẳng có ma cà rồng nào cả, chỉ là những kẻ trộm xác với thủ đoạn đánh tráo quan tài mà thôi. Ngài giả làm xác chết nằm trong quan tài, để Eleanor Austen và Edward cố tình gặp hai kẻ kia, dẫn dắt bọn chúng tới chỗ cỗ quan tài của ngài, theo chúng tới nơi buôn bán xác, và một lần tóm gọn tất cả.
"Đã cho người đuổi theo gã đàn ông kia chưa, Edward?"
"Thưa ngài, tôi đã cho người đuổi theo."
Victor gật đầu hài lòng, thong thả rời khỏi quan tài và bước về phía hai kẻ trộm xác. Khóe môi của ngài nhếch lên tạo một nụ cười khinh bỉ, và ngài nói.
"Ma cà rồng ở Edinburgh."
Âm giọng trầm lạnh của ngài Bá tước thu hút hoàn toàn sự chú ý của Burke và Hare. Một trong hai tên nhìn ngài, lắp bắp với một đôi mắt mở trừng.
"Ngươi... là người hay ma?"
Victor bước chậm rãi về phía hai kẻ trộm xác. Vẻ thong thả của ngài chẳng làm chúng thoải mái, ngược lại như muốn dồn chúng tới đường cùng.
"Tạo ra lời đồi về Ma cà rồng ở Edinburgh, cuối cùng lại sợ hãi trước một xác chết biết đi? Quan tài không có dấu cạy phá vì nó bị đánh tráo, ta nói đúng chứ?"
Burke và Hare nuốt khan một cách khổ sở. Bây giờ thì chúng đã rõ kẻ đang đứng trước mặt chúng là người hay ma rồi.
"Các ngươi chỉ trộm xác của những kẻ thuộc tầng lớp dân nghèo, vì khi mai táng, những gia đình thuộc tầng lớp trung lưu và quý tộc sẽ chôn cất trong những quan tài sắt hoặc bọc xung quanh bằng mortsafes (2) để tránh việc trộm xác, trong khi những gia đình nghèo thì không đủ tiền làm vậy. Hơn nữa, quan tài mà tầng lớp dân nghèo sử dụng cũng ọp ẹp và sơ sài hơn. Các ngươi chỉ có 2 người, nếu như dùng cách đánh tráo quan tài để trộm xác, sẽ không thể khiêng được những quan tài quá nặng."
"Còn nữa, chỉ có những ngôi mộ mới cất lâu nhất 2 ngày mới xuất hiện nạn mất xác. Bởi vì đó là thời gian tối đa một xác chết bắt đầu chuyển sang giai đoạn phân hủy nặng. Sau thời gian đó, những xác chết sẽ không còn dùng được nữa. Lời đồn về Ma cà rồng xuất hiện ngay tại thời điểm cơn khát tử thi (3) dâng lên cao nhất. Và Edinburgh- cái nôi của ngành Y trên toàn vương quốc, dĩ nhiên sẽ là nơi mà cơn khát tử thi hoành hành nhiều nhất. Các ngươi trộm xác để bán cho những nhà khoa học nghiên cứu trên xác người, đúng không?"
Từng lời nói của Victor vang lên, rót vào tai hai kẻ trộm xác những kinh hoàng, bóc mẽ hoàn toàn mục đích và mánh khóe của chúng. Bước chân ngài Bá tước tiến về phía chúng đã dừng lại, cũng là lúc cả hai đã bị dồn kịch tới chân tường. Cả hai run rẩy đứng nép vào nhau, mồ hôi đổ ra như tắm.
Ngươi đi một bước, và Victor Shadow sẽ đi trước ngươi ba bước. Ngươi đi được nửa đường, thì ngài đã tới điểm cuối cùng. Ngươi nghĩ mình ẩn mình trong màn đêm, mà không biết Victor Shadow chính là bóng tối.
"Nói cho ta biết, các ngươi thường bán xác chết cho ai?"
Burke gần như run lên trước cái nhìn rét lạnh của ngài Bá tước, gã nói với giọng ngắt quãng.
"Chúng tôi chỉ bán cho duy nhất người đàn ông ban nãy, nhưng ông ta chưa bao giờ lộ mặt và lộ danh tính."
Trước vẻ sợ sệt hèn nhát ấy, Victor khẽ cau mày, tiến gần về phía tên còn lại, cao giọng hỏi.
"Ngươi biết gì về những cuộc mua bán xác chết thế này?"
Gã trộm xác chậm rãi ngẩng mặt lên nhìn Victor, không hề tỏ ra thấp hèn như kẻ đi cùng, nhưng giọng nói vẫn hơi run lên vì sợ hãi.
"Những cuộc mua bán như thế này chỉ được xem như bán lẻ. Mặc dù tôi chưa từng được đặt chân vào, nhưng nếu muốn biết rõ về buôn bán tử thi, có một nơi được gọi là. Hội chợ phù hoa."

(1) Đại hỏa hoạn ở Edinburgh: là một trận cháy lớn phá hủy nhiều tòa nhà cao tầng ở khu Old Town, trong đó High Street bị ảnh hưởng nhiều nhất, đặc biệt là khu vực phía nam giữa nhà thờ Thánh Giles và Tron Kirk.
(2) Mortsafes: hay còn gọi là lồng an toàn, cùng với quan tài sắt là hai cách phổ biến được sử dụng trước năm 1832 tại Anh, đặc biệt là Scotland, để chống lại nạn trộm xác.
(3) Cơn khát tử thi: trước năm 1832, nhu cầu về xác chết phục vụ cho việc nghiên cứu giải phẫu trên cơ thể người tăng cao, xong lại chưa có nhiều trường hợp hiến xác. Điều này dẫn đến việc những kẻ trộm mộ để bán xác lại cho những nhà khoa học. Hiện tượng này xảy ra nhiều nhất ở Scotland, đặc biệt là Edinburgh.